Cập nhật: 10:01 GMT + 7, Thứ năm ngày 24/01/2019
Luật pháp quốc tế
HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 (tiếp theo kỳ trước)
(19/11/2013)

HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 (tiếp theo kỳ trước)

CÁC THỦ TỤC DẪN TỚI NHỮNG QUYẾT ĐỊNH KHÔNG BẮT BUỘC

Phần này tập trung vào việc xem xét nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp, song những quyết định của các thủ tục này lại không có tính chất bắt buộc.

Có hai loại thủ tục dẫn tới những quyết định không bắt buộc:

+ Trao đổi quan điểm;

+ Hoà giải.

1. Nghĩa vụ Trao đổi quan điểm

Điều 283 Công ước Luật biển năm 1982 qui định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải tiến hành ngay một cuộc trao đổi về quan điểm khi phát sinh tranh chấp giữa họ liên quan đến việc giải quyết hay áp dụng Công ước. Điều 283 nêu rõ: “các bên tranh chấp tiến hành ngay một cuộc trao đổi về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng các phương pháp hoà bình khác”.

Như vậy, theo Điều 283, các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ không được khước từ việc tiến hành thương lượng ngoại giao để giải quyết tranh chấp và phải tiến hành ngay các cuộc thương lượng khi tranh chấp xảy ra. Theo nhận thức chung của đại diện các quốc gia tham gia Hội nghị Luật biển lần thứ III thì nghĩa vụ “trao đổi quan điểm là nhằm chủ yếu vào việc xác định ra phương thức giải quyết tranh chấp, chứ không nhằm làm chấm dứt được tranh chấp”1. Tuy nhiên, việc các bên tranh chấp có thể kéo dài thời gian trao đổi quan điểm hay không đã không được qui định rõ ràng trong Công ước.

2. Hoà giải

Hoà giải là một thủ tục giải quyết tranh chấp tồn tại lâu đời trong luật pháp và thực tiễn quốc tế. Thủ tục này tìm giải pháp cho vụ tranh chấp trên cơ sở dung hoà quan điểm, quyền lợi của các bên tranh chấp. Việc hoà giải thông thường được tiến hành bởi một cơ quan hoặc thực thể do các bên tranh chấp thành lập hoặc cùng chấp nhận với nhiệm vụ đưa ra các khuyến nghị nhằm giải quyết tranh chấp.

Trong Công ước Luật biển năm 1982, hoà giải được coi là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp không dẫn tới các quyết định bắt buộc. Công ước đã dành riêng Điều 284 và Phụ lục V để qui định về thủ tục hoà giải. Về cơ bản, thủ tục hoà giải qui định trong Công ước không có gì khác biệt so với thủ tục hoà giải nói chung trong luật pháp và thực tiễn quốc tế. Song có một điểm mới là Công ước đã trù định về thủ tục hoà giải bắt buộc để giải quyết các tranh chấp liên quan đến những vấn đề cụ thể của Công ước.

2.1. Đối tượng của thủ tục hoà giải bắt buộc

2.1.1. Phân tích Điều 297, có thể thấy rằng các tranh chấp sau đây được coi là đối tượng giải quyết của thủ tục hoà giải bắt buộc:

- Các tranh chấp liên quan đến nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục của quốc gia ven biển (Khoản 2.b Điều 297);

- Các vấn đề liên quan đến đánh bắt tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển (Khoản 3.b Điều 297).

Về thực chất, Điều 297 là một sự thoả hiệp về quyền lợi giữa các quốc gia ven biển và các quốc gia khác. Một mặt, Điều 297 bảo vệ các quyền thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển đối vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, không cho phép các quốc gia khác đem những tranh chấp liên quan đến việc quốc gia ven biển thi hành các quyền thuộc chủ quyền ở những vùng biển trên ra giải quyết theo các thủ tục xét xử bắt buộc. Song mặt khác, Điều 297 cũng bảo vệ các quyền lợi chính đáng của quốc gia khác, tránh những trường hợp quốc gia ven biển có thể hành động một cách lạm quyền khi thi hành các quyền chủ quyền của mình. Sự thoả hiệp này là rất quan trọng vì nó liên quan đến một vùng biển mà ở đó các quốc gia ven biển đã giành được các quyền thuộc chủ quyền có mục đích kinh tế.

Tuy nhiên, theo Điều 297 thì không phải tất cả các tranh chấp kể trên đều là đối tượng của thủ tục hoà giải bắt buộc. Các Khoản 2.b, 3.b.i và 3.b.ii qui định rõ ràng chỉ có những tranh chấp liên quan đến việc quốc gia ven biển lạm quyền trong lĩnh vực đánh bắt cá, nghiên cứu khoa học ở vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa mới phải đưa ra hoà giải theo thủ tục đã trù định tại Mục 2 Phần XV (hoà giải bắt buộc). Như vậy, đối tượng của thủ tục hoà giải bắt buộc bao gồm:

a) Các tranh chấp phát sinh từ việc quốc gia ven biển không sử dụng những quyền mà các điều 246 và 253 đã dành cho họ một cách phù hợp với Công ước. Những quyền đó, cụ thể gồm quyền cho phép hay không cho phép vào nghiên cứu khoa học, quyền đình chỉ hay đình chỉ không cho nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.

b) Các tranh chấp phát sinh từ việc quốc gia ven biển không thực hiện nghĩa vụ liên quan đến quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh vật: từ chối không qui định về lượng cá thừa khi có quốc gia khác yêu cầu hoặc từ chối không cho quốc gia không có bờ biển, quốc gia bất lợi về địa lý vào đánh bắt hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế theo qui định của các điều 62, 69 và 70 của Công ước.

Riêng đối với các tranh chấp liên quan đến hoạch định ranh giới các vùng biển, việc áp dụng thủ tục hoà giải bắt buộc được tiến hành với điều kiện:

+ Các tranh chấp loại này phải được phát sinh sau khi Công ước có hiệu lực, tức là để giải quyết các tranh chấp loại này phát sinh trước khi Công ước có hiệu lực chỉ có thể sử dụng phương thức đó được các bên tranh chấp cùng chấp nhận;

+ Nếu các bên tranh chấp không đi đến một thoả thuận nào bằng con đường thương lượng trong một thời hạn hợp lý (tuy nhiên Công ước lại không qui định rõ thời hạn hợp lý đó là bao nhiêu);

+ Đối tượng tranh chấp không được liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển đã được một thoả thuận giữa các bên giải quyết dứt khoát hoặc liên quan đến một tranh chấp khác chưa được giải quyết về chủ quyền và các quyền khác trên một lãnh thổ đất liền hay đảo.

2.1.2. Ngoài những vấn đề trên, các tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng các Điều 15, 74 và 83 liên quan đến hoạch định ranh giới các vùng biển hay các vụ tranh chấp về các vịnh hoặc vùng nước lịch sử (Khoản 1.a.i Điều 298) cũng có thể được đưa ra giải quyết bằng thủ tục hoà giải bắt buộc.

2.2. Thủ tục tiến hành hoà giải

Thủ tục tiến hành hoà giải được qui định trong Phụ lục V của Công ước. Phụ lục V đã cố gắng sử dụng một phương pháp tiếp cận thống nhất trong vấn đề hoà giải, song trong phần khởi đầu thủ tục vẫn có thể thấy rõ sự khác biệt giữa thủ tục hoà giải tự nguyện và thủ tục hoà giải bắt buộc. Còn thủ tục tiến hành của hai loại hoà giải này đều tuân theo các qui định chung giống nhau (các Mục 1 và 2 của Phụ lục V).

Khởi đầu thủ tục

Qui định liên quan đến khởi đầu thủ tục hoà giải tự nguyện (Điều 1, Phụ lục V) giải quyết các tranh chấp về luật biển hoàn toàn giống qui định về thủ tục hoà giải nói chung trong luật pháp quốc tế. Điều kiện quan trọng để khởi đầu thủ tục hoà giải tự nguyện là phải có sự chấp thuận của tất cả các bên tranh chấp. Điều 284 có qui định về việc một bên tranh chấp đưa ra yêu cầu sử dụng thủ tục hoà giải và các bên tranh chấp khác chấp thuận yêu cầu đó, song điều chủ yếu ở đây là phải có sự thoả thuận ý chí của các bên tranh chấp liên quan đến việc chọn thủ tục hoà giải như một phương thức giải quyết tranh chấp. Như vậy, Công ước luôn dành cho các quốc gia thành viên cơ hội để thể hiện sự chấp thuận của mình đối với việc lựa chọn bất kỳ một phương thức giải quyết tranh chấp nào, miễn là đối tượng của tranh chấp phải liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước.

Khi tất cả các bên tranh chấp đều đã chấp thuận thủ tục hoà giải thì bất kỳ bên tranh chấp nào cũng đều có thể đề xuất thủ tục bằng cách thông báo quyết định của mình cho các bên tranh chấp khác biết. Công ước qui định rõ việc thông báo này phải được thực hiện bằng văn bản để xác định cam kết của các bên cũng như thời hạn thành lập Uỷ ban hoà giải.

Đối với hoà giải bắt buộc, về nguyên tắc, việc khởi đầu thủ tục là do một bên tranh chấp đơn phương đưa ra. Trong những vấn đề nêu ở khoản 2 và khoản 3 Điều 297, với việc phê chuẩn Công ước, quốc gia ven biển đương nhiên đã chấp thuận thủ tục hoà giải bắt buộc để giải quyết tranh chấp. Và việc chấp thuận này tính từ thời điểm nhận được văn bản thông báo của quốc gia yêu cầu áp dụng thủ tục hoà giải bắt buộc. Thậm chí, việc bên được yêu cầu không trả lời thông báo hay không chấp nhận giải quyết tranh chấp bằng thủ tục hoà giải bắt buộc cũng không được coi là một trở ngại cho việc bắt đầu thủ tục này.

Uỷ ban hoà giải

Sau khi việc thông báo được thực hiện xong, thủ tục hoà giải được bắt đầu triển khai và các bên sẽ thành lập ra Uỷ ban hoà giải để tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp. Uỷ ban hoà giải sẽ kết thúc nhiệm vụ của mình bằng việc đưa ra một bản báo cáo.

Về nguyên tắc, Uỷ ban hoà giải được thành lập theo qui định của Công ước là một cơ quan ad hoc, lâm thời. Điều này có nghĩa là mỗi uỷ ban hoà giải chỉ được thành lập cho từng vụ tranh chấp và tiến hành hoạt động theo sự thoả thuận của các bên liên quan.

Thành viên của Uỷ ban hoà giải được lựa chọn từ bản danh sách các hoà giải viên do viên Tổng Thư ký Liên hợp quốc lập ra và giữ. Mỗi quốc gia thành viên Công ước có quyền chỉ định bốn hoà giải viên và tên của các hoà giải viên này được ghi vào bản danh sách nói trên. Trong trường hợp số lượng các hoà giải viên do một quốc gia thành viên chỉ định ra ít hơn bốn người thì quốc gia đó có thể tiến hành chỉ định bổ sung thêm cho đủ. Yêu cầu đối với các hoà giải viên là họ phải công minh, có thẩm quyền và khách quan (Điều 2, Mục 1, Phụ lục V). Khác với các thẩm phán, nhiệm vụ của hoà giải viên là tìm ra những giải pháp mà các bên tranh chấp cùng có thể chấp nhận được, nên yêu cầu về “trình độ hiểu biết luật pháp quốc tế” đã không được đặt ra.

Các hoà giải viên được ghi trên bản danh sách cho đến khi bị quốc thành viên chỉ định họ rút đi.

Về thành phần của Uỷ ban hoà giải (Điều 3, Mục 1, Phụ lục V): các bên tranh chấp có quyền tự qui định ra thành phần của Uỷ ban theo ý mình trên cơ sở thoả thận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được, Công ước qui định thành phần của Uỷ ban hoà giải gồm 5 uỷ viên: Bên đề xuất thủ tục hoà giải chỉ định hai hoà giải viên có tên trong bản danh sách của Tổng Thư ký Liên hợp quốc và một trong hai người đó có thể là công dân của mình. Bên kia, trong thời hạn 21 ngày kể từ khi nhận được thông báo khởi đầu thủ tục, cũng chỉ định hai hoà giải viên khác. Nếu việc chỉ định này không được tiến hành trong thời hạn qui định, bên đề xuất thủ tục, trong tuần lễ tiếp sau khi hết thời hạn này, có thể chấm dứt thủ tục bằng thông báo gửi cho bên kia hoặc yêu cầu Tổng Thư ký Liên hợp quốc tiến hành bổ nhiệm. Và trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bổ nhiệm hoà giải viên cuối cùng, bốn hoà giải viên sẽ chỉ ra người thứ năm (cũng có tên trong bản danh sách các hoà giải viên); người thứ năm này sẽ là Chủ tịch Uỷ ban hoà giải. Nếu việc chỉ định người thứ năm không tiến hành được trong thời hạn qui định, thì mỗi bên, trong tuần lẽ tiếp theo khi hết thời hạn này, có thể yêu cầu Tổng Thư ký Liên hợp quốc bổ nhiệm. Về phía mình, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu, Tổng Thư ký Liên hợp quốc tiến hành việc bổ nhiệm bằng cách lựa chọn, có tham khảo ý kiến với các bên tranh chấp, trong số người có tên trên bản danh sách hoà giải viên.

Hoạt động của Uỷ ban hoà giải

Sau khi được thành lập, trong vòng 12 tháng Uỷ ban hoà giải có nhiệm vụ làm ra một bản báo cáo. Thời hạn 12 tháng này có thể được coi là ngắn nếu tính đến tầm quan trọng của tranh chấp song nếu so với thủ tục hoà giải thông thường trong thực tiễn quốc tế (6 tháng) thì vẫn dài gấp đôi thời gian. Mặc dù Công ước không có qui định rõ ràng, nhưng nếu các bên tranh chấp thoả thuận được thì vẫn có thể kéo dài thêm thời hạn làm báo cáo của Uỷ ban. Trong khuôn khổ thời hạn này, Uỷ ban có quyền đề ra lịch cụ thể, theo đó các bên tranh chấp phải trình bày trước Uỷ ban những ý kiến của họ bằng lời hay bằng văn bản.

Trừ khi các bên tranh chấp có thoả thuận khác, Uỷ ban hoà giải tự quyết định thủ tục làm việc của mình. Với sự thoả thuận của các bên tranh chấp, Uỷ ban hoà giải có thể mời bất kỳ quốc gia thành viên nào khác trình bày với mình những ý kiến bằng lời hay bằng văn bản. Các quyết định về thủ tục, các kiến nghị và báo cáo của Uỷ ban được thông qua theo đa số các hoà giải viên.

Uỷ ban hoà giải có chức năng nghe các bên trình bày nội dung vấn đề tranh chấp, xem xét các yêu sách, đề nghị cũng như ý kiến phản đối của họ và về phần mình, đưa ra các đề nghị nhằm giúp các bên đạt được một giải pháp hoà giải tranh chấp. Cuối cùng, Uỷ ban làm một bản báo cáo trong đó bao gồm tất cả các thoả thuận đã đạt được. Trong trường hợp không đạt được sự thoả thuận nào giữa các bên tranh chấp, báo cáo của Uỷ ban phải nêu rõ những kết luận bao gồm toàn bộ các điểm về thực tế hay pháp lý có quan hệ tới đối tượng tranh chấp cũng như những khuyến nghị mà Uỷ ban thấy thích hợp, nhằm đi tới giải pháp hoà giải. Báo cáo của Uỷ ban được gửi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc và chuyển tới các bên tranh chấp.

Trong cả trường hợp hoà giải tự nguyện lẫn hoà giải bắt buộc, Uỷ ban hoà giải chỉ có thể thông qua bản báo cáo của mình vốn chỉ có tính chất khuyến nghị. Các bên tranh chấp có thể chấp nhận hay bác bỏ bản báo cáo của Uỷ ban và như vậy, mọi đề nghị hay kiến nghị của báo cáo hoàn toàn không ràng buộc các bên tranh chấp. Tuy nhiên, dù chỉ có tính khuyến nghị song báo cáo của Uỷ ban hoà giải trong một số trường hợp được coi là cơ sở để các bên tranh chấp có thể thương lượng tiếp với nhau. Khoản 1.a.ii Điều 298 cũng qui định rõ: “Một khi Uỷ ban hòa giải đã trình bày báo cáo với đầy đủ các luận cứ của mình, thì các bên tranh chấp sẽ tiếp tục thương lượng về một thoả thuận trên cơ sở của báo cáo đó; nếu các cuộc thương lượng không thành thì các bên tranh chấp, qua thoả thuận với nhau, đưa tranh chấp ra giải quyết theo các thủ tục đã được qui định ở Mục 2, Phần XV”.

Thủ tục hoà giải kết thúc khi các bên đã chấp nhận hay một bên bác bỏ các khuyến nghị trong báo cáo qua con đường thông báo bằng văn bản gửi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc, hoặc là sau 3 tháng kể từ ngày báo cáo của Uỷ ban được chuyển cho các bên tranh chấp.

Thực tiễn quốc tế về việc sử dụng các phương thức hoà giải để giải quyết các tranh chấp liên quan đến luật biển cho đến nay mới có một trường hợp: hoạch định ranh giới thềm lục địa Ai-xơ-len và Na-uy ở khu vực biển có đảo Jan Mayen. Do không thoả thuận được về vấn đề hoạch định ranh giới thềm lục địa ở khu vực đảo Jan Mayen, Ai-xơ-len và Na-uy đã chấp thuận đưa vấn đề ra một uỷ ban hoà giải. Uỷ ban hoà giải được thành lập chỉ để giải quyết tranh chấp này, có thẩm quyền đưa ra khuyến nghị về vấn đề hoạch định thềm lục đia ở khu vực tranh chấp, các yếu tố địa lý, địa chất và các hoàn cảnh đặc biệt khác”. Mặc dù khuyến nghị do Uỷ ban hoà giải đưa ra không có tính chất ràng buộc đối với hai bên, song trong quá trình thương lượng tiếp theo để giải quyết tranh chấp, hai bên đã “lưu ý đáng kể đến các khuyến nghị đó. Kết quả là Ai-xơ-len và Na-uy đã ký kết được các hiệp định về hoạch định thềm lục địa ở khu vực đảo Jan Mayen vào năm 1980 và 1981. (Còn nữa).

An Bình

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Ngày 7/6, Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan đã tổ chức buổi gặp mặt với chủ đề “Người Việt Nam đang sống, làm việc, học tập tại Thái Lan hướng về quê hương,...
Vấn đề bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập, xây dựng cũng như duy trì một trật tự quốc tế trong quan...
Để xác định hướng đi của đường biên giới trên thực địa phải căn cứ vào mô tả hướng đi đường biên giới và bản đồ biên giới để xác định.
Bảng kê tọa độ, độ cao mốc giới là bảng kê tổng hợp tọa độ, độ cao của các mốc giới trên biên giới đất liền được sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ mốc ngã...
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Đảo xa vang lời ca tiếng máy