Cập nhật: 05:08 GMT + 7, Thứ sáu ngày 23/08/2019
Luật pháp quốc tế
HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982
(13/06/2013)

Quá trình xây dựng và các quy định về giải quyết tranh chấp

Trong quá trình dụng, khai thác các vùng biển có qui chế pháp lý khác nhau của biển và đại dương (nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, biển quốc tế, đáy đại dương), quyền lợi của các quốc gia là đa dạng, chồng chéo và nhiều khi đối lập nhau. Có những trường hợp quyền lợi của một quốc gia này lại là nghĩa vụ của một quốc gia khác hoặc ngược lại, ví dụ về hàng hải, đánh bắt cá, khai thác tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và nghiên cứu khoa học.

Trước tình hình này, người ta dự kiến có thể xảy ra nhiều tranh chấp giữa các quốc gia khi Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển 1982 có hiệu lực, vì nhiều điều khoản của Công ước rất phức tạp, có thể được giải thích bằng những cách khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Do đó, Công ước phải xây dựng được một hệ thống giải quyết tranh chấp sao cho bảo đảm được sự công bằng về quyền lợi của tất cả các quốc gia, đồng thời góp phần vào việc duy trì hoà bình và an ninh thế giới.

Hội nghị của Liên hợp quốc về luật Biển lần thứ I (1958) chỉ quy định được cách giải quyết có tính chất bắt buộc đối với những tranh chấp về đánh bắt cá ở biển quốc tế (công hải). Song trên thực tế, cách giải quyết tranh chấp này đã không được sử dụng. Ngoài ra, Hội nghị còn dự thảo ra một Nghị định thư nhằm trao cho Toà án quốc tế thẩm quyền xét xử những tranh chấp nảy sinh khi giải thích và áp dụng các Công ước khác về luật biển (Hội nghị của Liên hợp quốc về luật Biển lần thứ I thông qua được 04 công ước:

+ Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải;

+ Công ước về thềm lục địa;

+ Công ước về biển cả;

+ Công ước về đánh bắt cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển ở biển cả.

Nhưng Nghị định thư này đã không đạt đợc 2/3 số phiếu tán thành tại Hội nghị nên đã không được thông qua1.

Tại Hội nghị của Liên hợp quốc về luật Biển lần thứ III, đại diện của các quốc gia tham gia Hội nghị đều thống nhất xác định cần phải xây dựng một hệ thống giải quyết tranh chấp. Các quốc gia đang phát triển, do muốn tránh những áp lực về kinh tế, chính trị, quân sự của các cường quốc và hy vọng thực hiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật nên đã ra sức đấu tranh để thiết lập một hệ thống giải quyết tranh chấp trên biển bằng các biện pháp hoà bình. Các nước phát triển, trước tình hình xuất hiện chế định vùng đặc quyền kinh tế và khu vực quốc tế đáy đại dương cũng muốn có một hệ thống giải quyết tranh chấp nhằm đảm bảo quyền lợi của họ được pháp luật bảo vệ. Như vậy, giữa các quốc gia tham gia Hội nghị ngay từ đầu đã có được sự trùng hợp nào đó về lợi ích trong việc xây dựng một hệ thống các phương thức nhằm giải quyết những tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước sau này.

Trên thực tế, vấn đề giải quyết tranh chấp theo Công ước mới về luật biển được xem xét tại Hội nghị của Liên hợp quốc về luật Biển lần thứ III trong hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Là quá trình thảo luận trong khuôn khổ một Nhóm làm việc không chính thức (các thành viên của Nhóm trao đổi, thảo luận với tư cách cá nhân). Nhóm này tiến hành thảo luận từ khi bắt đầu Hội nghị cho đến cuối năm 1974 tại khoá 2 của Hội nghị và đã thông qua được một tài liệu sơ khởi gồm những công thức khác nhau về dự thảo văn bản của 11 vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp2.

Tại khoá 3 của Hội nghị diễn ra tại Giơ-ne-vơ (1975), Nhóm làm việc không chính thức tiếp tục công việc sơ khởi của mình trên cơ sở mở rộng thành phần của Nhóm và tiến hành nhiều phiên họp hơn. Ở một phiên họp được tổ chức tại thành phố Montreux (Thuỵ Sĩ), Nhóm đã thông qua được “Công thức Montreux” về vấn đề lựa chọn các thủ tục bắt buộc. Vấn đề nổi cộm nhất tại phiên họp Montreux là có cần thiết phải lập ra một Toà án mới về luật biển không trong khi đã có Toà án quốc tế của Liên hợp quốc hay không. Cũng tại phiên họp này, có ý kiến đưa ra là cần tập trung vào những qui định nhằm ngăn chặn tranh chấp hơn là giải quyết tranh chấp3.

Cũng tại khoá 3, Nhóm làm việc đã chuẩn bị xong một tài liệu không chính thức khác bao gồm một công thức duy nhất về dự thảo các điều khoản liên quan đến giải quyết tranh chấp4. Tài liệu này sau đó trờ thành cơ sở của một tài liệu không chính thức khác của ông Chủ tịch Hội nghị về vấn đề giải quyết tranh chấp5 và được Nhóm xem xét kỹ lưỡng lại trong năm 1975 tại khoá 4 (New York) của Hội nghị. Tại khoá 4, Nhóm không đưa ra thêm một tài liệu mới nào và như vậy giai đoạn chuẩn bị của Nhóm đã kết thúc.

Giai đoạn thứ hai: Việc thảo luận chính thức về hệ thống giải quyết tranh chấp được bắt đầu từ khoá 4. Tại khoá họp này, lần đầu tiên Hội nghị đã chính thức đưa vấn đề giải quyết tranh chấp ra thảo luận tại các phiên họp toàn thể. Trên cơ sở các cuộc thảo luận chung, ông Chủ tịch Hội nghị đã sửa đổi lần thứ nhất tài liệu không chính thức của mình6 và đưa ra để thảo luận từng điều khoản tại các phiên họp toàn thể không chính thức của khoá 5 (new York, 1976) rối sau đó sửa thêm lần thứ 27. Bắt đầu từ thời điểm này, một phiên họp toàn thể không chính thức dưới sự chủ trì của ông Chủ tịch Hội nghị đã được tổ chức ở mỗi khoá họp tiếp theo để tập trung thương lượng về các điều khoản của Công ước liên quan đến hệ thống giải quyết tranh chấp.

Trong thời gian họp khoá 6 (tại New York) vào mùa hè năm 1977, Hội nghị đã đưa ra một tài liệu duy nhất bao gồm dự thảo các điều khoản thuộc các phần I, II, II do các ông Chủ tịch của ba Uỷ ban chính và phần IV do ông Chủ tịch Hội nghị chuẩn bị. Kết quả khoá 6 năm 1977 là “Văn bản thương lượng tổng hợp không chính thức” đã được thông qua8. Văn bản này được chia thành 16 phần, trong đó có phần XV được dành riêng cho những qui định về hệ thống giải quyết các tranh chấp. Phần XI bao gồm các điều khoản về đáy đại dương, trong đó có Mục 5 qui định về các thủ tục giải quyết các tranh chấp ở đáy đại dương.

Tại khoá 7 (Giơ-ne-vơ), Hội nghị đã lập ra thêm một Nhóm thương thượng để xem xét các khía cạnh đặc thù của vấn đề giải quyết tranh chấp. Nhóm này đã giành thời gian thảo luận về:

- Phạm vi các thủ tục có bên thứ ba tham gia để giải quyết tranh chấp;

- Việc bắt buộc sử dụng phương thức hoà giải để giải quyết tranh chấp.

Trên cơ sở kết quả làm việc của Nhóm thương lượng, tại khoá 8 (Giơ-ne-vơ, 1979), Hội nghị đã sửa đổi lại lần thứ nhất “Văn bản thương thượng tổng hợp không chính thức”9 và sau đó lập ra thêm một Nhóm chuyên gia pháp lý để tập trung thảo luận các vấn đề giải quyết tranh chấp ở đáy dại dương.

Khoá 8 họp kéo dài ở New York và các cuộc thảo luận sau đó đã đưa đến việc sửa đổi lần thứ hai “Văn bản thương lượng tổng hợp không chính thức” tại khoá 9 (New York, 1980). “Văn bản thương thượng lượng tổng hợp không chính thức” có sửa đổi lần thứ ba và sau đó được gọi là “Dự thảo Công ước về luật Biển (Bản không chính thức) đã được đưa ra vào cuối khoá 9 họp kéo dài (Giơ-ne-vơ, 1980). Khoá 10 (1981) dưới sự chủ trì của ông Chủ tịch, Hội nghị đã không tiến hành thảo luận nhiều về vấn đề giải quyết tranh chấp, mà chỉ đưa thêm vào hệ thống giải quyết tranh chấp những điều khoản liên quan đến các thực thể khác (không phải là các quốc gia thành viên). Cuối cùng cả hình thức, cơ cấu và nội dung các quy định của hệ thống giải quyết tranh chấp trong Dự thảo Công ước10 về cơ bản đã được giữ lại đầy đủ trong Công ước luật Biển 1982.

Hệ thống giải quyết tranh chấp trong Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển 1982

Theo Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển 1982, một hệ thống giải quyết tranh chấp đã hình thành. Hệ thống này được quy định cụ thể trong:

- Phần XV “Giải quyết tranh chấp” gồm 3 Mục và 21 điều khoản (từ điều 279 đến điều 299);

- Phụ lục V “Việc hoà giải” gồm 14 điều khoản;

- Phụ lục VI “Qui chế của Toà án quốc tế về luật biển” gồm 41 điều khoản;

- Phụ lục VII “TRọng tài” gồm 13 điều khoản;

- Phụ lục VIII “Trọng tài đặc biệt” gồm 5 điều khoản;

- Phần XI “Vùng” với Mục 5 về “Giải quyết các tranh chấp và ý kiến tư vấn liên quan đến khu vực đáy đại dương, gồm 6 điều khoản (từ điều 186 đến điều 191).

Ngoài ra, liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp, Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển 1982 còn có một số điều khoản khác:

+ Điều 15 “Hoạch định ranh giới lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau”;

+ Điều 59 “Cơ sở giải quyết các tranh chấp trong trường hợp Công ước không qui định rõ các quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế”;

+ Điều 74 và điều 83 “Hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (thềm lục địa) giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau”;

+ Điều 264 và điều 265 “Việc giải quyết tranh chấp và các biện pháp bảo đảm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển”.

Qua việc liệt kê số lượng các điều khoản của Công ước cũng như các Phụ lục kèm theo về vấn đề giải quyết tranh chấp, có thể thấy được rằng Công ước đã dành một vị trí quan trọng đặc biệt cho vấn đề này. Trong tổng số 320 điều của chính Công ước đã có 27 điều (21 điều trong Phần XV và 6 điều trong Mục 5 của Phần XI) và trong số 9 Phụ lục kèm theo Công ước có tới 4 Phụ lục, trực tiếp qui định về thủ tục giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, nếu so sánh số lượng điều của các Phụ lục kèm theo Công ước cũng có thể thấy được tầm quan trọng của các qui định về giải quyết tranh chấp: 4 Phụ lục liên quan đến thủ tục giải quyết tranh chấp gồm 74 điều, trong khi 5 Phụ lục còn lại chỉ có 44 điều.

Như vậy, với các qui định cụ thể và chi tiết, Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển 1982 đã thiết lập ra một hệ thống riêng biệt và hoàn toàn mới về giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, việc thiết lập được hệ thống này không có nghĩa là giải quyết được tất cả những khó khăn mang tính truyền thống của vấn đề giải quyết tranh chấp. Song với quyết tâm từ bỏ cách tiếp cận nặng nề về lý luận, đại diện các quốc gia tham gia Hội nghị của Liên hợp quốc về luật Biển lần thứ III đã xây dựng được một tập hợp các qui định mang tính thực tiễn nhằm một mặt tạo thuận lợi cho việc giải quyết hoà bình các tranh chấp, và mặt khác đảm bảo sự thống nhất tương đối trong việc giải thích hay áp dụng Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển 1982. (Còn nữa).

An Bình

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Ngày 7/6, Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan đã tổ chức buổi gặp mặt với chủ đề “Người Việt Nam đang sống, làm việc, học tập tại Thái Lan hướng về quê hương,...
Vấn đề bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập, xây dựng cũng như duy trì một trật tự quốc tế trong quan...
Hầu hết các đường biên giới đất liền của các nước trên thế giới ra đời từ cách đây không lâu lắm, hơn một nửa trong số đó được hình thành sau năm 1900,...
10 ngày trên biển, được đặt chân lên những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa, gặp gỡ những người lính Trường Sa, Nhà giàn DK1 tuy không phải thời gian quá...
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Đảo xa vang lời ca tiếng máy