Cập nhật: 05:08 GMT + 7, Thứ sáu ngày 23/08/2019
Luật pháp quốc tế
HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 (tiếp theo kỳ trước và hết) CÁC THỦ TỤC BẮT BUỘC DẪN TỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH BẮT BUỘCHỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 (tiếp theo kỳ trước và hết) CÁC THỦ TỤC BẮT BUỘC DẪN TỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH BẮT BUỘC
(22/11/2013)

Trong trường hợp các bên của một tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các qui định của Công ước đã sử dụng hết các thủ tục nêu trong Chương II (trao đổi quan điểm, hoà giải - Mục 1 Phần XV) mà vẫn không đạt được giải pháp nào, thì theo yêu cầu của một bên, tranh chấp sẽ được đem ra giải quyết trước một toà án và phán quyết của toà sẽ có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp. Đây là một nguyên tắc giải quyết tranh chấp có tính bắt buộc mà tất cả các quốc gia khi tham gia Công ước Luật biển năm 1982 buộc phải chấp nhận và không thể thoái thác. Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong các qui định tại Mục 2 Phần XV Công ước. Mục đích của nguyên tắc là làm cho mọi tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đều phải được giải quyết triệt để: sau khi việc sử dụng các phương thức tự nguyện không thành công, các quốc gia có nghĩa vụ phải sử dụng các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc để giải quyết tranh chấp.

1. Phạm vi áp dụng của các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc

Phạm vi áp dụng của các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc được qui định trong các Điều 286 và 288. Theo Điều 286, mọi tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước khi không được giải quyết bằng cách áp dụng Mục 1, Phần XV (các thủ tục không dẫn tới quyết định bắt buộc) đều được đưa ra giải quyết trước toà án có thẩm quyền theo Mục 2, Phần XV. Còn theo Điều 288, khái niệm tranh chấp liên quan đến giải thích hay áp dụng Công ước được mở rộng hơn, bao gồm cả những “tranh chấp liên quan giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế liên quan đến các mục đích của Công ước” và các vấn đề được đưa ra giải quyết theo các thủ tục bắt buộc như đã được trù định trong Công ước. Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi áp dụng các thủ tục bắt buộc được qui định trong Công ước là rất rộng. Điều này được khẳng định thêm bởi qui định của Khoản 4 Điều 288 rằng “trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề một toà án có thẩm quyền hay không thì vấn đề này do toà án đó quyết định”.

Tuy vậy, không phải tất cả mọi tranh chấp về luật biển đều có thể giải quyết bằng các thủ tục bắt buộc dẫn tới quyết định bắt buộc. Mục 3, Phần XV Công ước qui định rõ những giới hạn và ngoại lệ đối với việc áp dụng các thủ tục kể trên.

1.1. Những giới hạn áp dụng thủ tục bắt buộc nêu trong Điều 297

Nội dung qui định của Điều 297 cho thấy trong trường hợp tranh chấp liên quan đến các quyền thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, cụ thể là trong hai vấn đề nghiên cứu khoa học và đánh bắt hải sản, Công ước áp đặt những hạn chế cụ thể đối với khả năng giải quyết tranh chấp bằng các thủ tục bắt buộc dẫn tới các qui định bắt buộc.

1.1.1. Đối với các tranh chấp về việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hay quyền tài phán của các quốc gia ven biển

Điều kiện cần phải có cho việc đưa ra tranh chấp thuộc loại này ra giải quyết theo một trong những thủ tục bắt buộc mà Công ước qui định là phải xác định được:

a) Quốc gia ven biển đã không tuân theo Công ước liên quan đến tự do và quyền hàng hải, hàng không hoặc tự do và quyền đặt các dây cáp và ống dẫn dầu ngầm, cũng như đến việc sử dụng biển vào các mục đích khác được quốc tế thừa nhận là chính đáng đã nêu ở Điều 58;

b) Trong việc thi hành các tự do và các quyền đó hoặc trong việc sử dụng các quyền này, một quốc gia đã không tuân theo Công ước hay các luật và qui định do quốc gia ven biển đã ban hành phù hợp với các qui định của Công ước và các qui tắc khác của pháp luật quốc tế, với điều kiện các luật và quy định đó không trái với Công ước.

c) Quốc gia ven biển đã không tuân theo các qui tắc hay qui phạm quốc tế đã được xác định nhằm bảo vệ và giữ gìn môi trường biển có thể áp dụng cho quốc gia này và được Công ước đặt ra, hay được đặt ra thông qua một tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay một hội nghị ngoại giao hành động phù hợp với Công ước.

1.1.2. Đối với các tranh chấp về nghiên cứu khoa học

Khoản 2.a Điều 297 qui định cách giải quyết các tranh chấp về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, theo đó một mặt xác định rõ nguyên tắc chung là các tranh chấp về nghiên cứu khoa học đều phải được đưa ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án, mặt khác qui định quốc gia ven biển có quyền không chấp nhận thủ tục đó đối với các tranh chấp xuất phát từ:

+ Việc thực hiện quyền quyết định của quốc gia ven biển cho phép hay không cho phép các quốc gia khác vào nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của mình (theo Điều 246);

+ Việc quốc gia ven biển buộc quốc gia khác, sau khi được phép vào nghiên cứu khoa học, phải đình chỉ hoặc chấm dứt tiến hành một dự án nghiên cứu khoa học (Điều 253).

1.1.3. Đối với các tranh chấp về đánh bắt cá

Khoản 3.a Điều 297 cũng xác định nguyên tắc chung mà theo đó các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các qui định của Công ước về việc đánh bắt hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế đều được giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án (Mục 2, Phụ lục XV). Song trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến việc thi hành các quyền đó, quốc gia ven biển có quyền không chấp nhận cách giải quyết như vậy. Các quyền thuộc chủ quyền và việc thi hành chúng bao gồm: quyền tuỳ ý qui định khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận được và khả năng đánh bắt cá của quốc gia ven biển; quyền phân phối số cá thừa cho các quốc gia khác; quyền quyết định các thể thức, điều kiện đánh bắt cá…

Tuy nhiên, qui định của Khoản 3.a Điều 297 khó có thể áp dụng cho các tranh chấp phát sinh từ Điều 63. Điều 63 qui định về các đàn cá ở trong vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia ven biển hoặc đồng thời ở trong vùng đặc quyền kinh tế và trong một khu vực tiếp liền với vùng đặc quyền kinh tế. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến đánh bắt các đàn cá này, các bên tranh chấp đều là các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền tương tự như nhau đối với các đàn cá đó. Cách giải quyết các tranh chấp loại này đã không được đề cập đến trong Điều 297.

Có thể thấy đây là một “đặc quyền” của các quốc gia ven biển trong việc bảo vệ những quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình ở vùng đặc quyền kinh tế. Các quốc gia khác không được chia sẻ các quyền này, trừ khi được phép của các quốc gia ven biển. Tuy nhiên, các quốc gia ven biển phải chấp nhận đưa ra hoà giải bắt buộc, khi có quốc gia khác yêu cầu, các tranh chấp liên quan đến việc quốc gia ven biển đã:

+ Rõ ràng không thực hiện nghĩa vụ trong việc bảo vệ, quản lý, làm cho tài nguyên sinh vật biển trong vùng đặc quyền kinh tế bị tổn hại nghiêm trọng;

+ Độc đoán từ chối, không xác định theo yêu cầu của một quốc gia khác khối lượng đánh bắt cá và khả năng khai thác tài nguyên sinh vật của mình;

+ Độc đoán từ chối việc chia cho một quốc gia nào đó (đặc biệt là các quốc gia không có bờ biển hay có vị trí địa lý bất lợi) toàn bộ hay một phần số cá thừa mà mình đã xác nhận (theo các Điều 62, 69 và 70).

Tuy vậy, thủ tục toà hoà giải được áp dụng trong những trường hợp này là bắt buộc song kết luận của uỷ ban hoà giải không ràng buộc quốc gia ven biển phải thi hành.

Ở một chừng mực nhất định, thủ tục hoà giải bắt buộc đã hạn chế khả năng quốc gia ven biển đơn phương thi hành các quyền của mình một cách độc đoán, không phù hợp với Công ước. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng báo cáo của Uỷ ban hoà giải không có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp và các Khoản 2.b và 3.c của Điều 297 đều qui định rõ là: “Trong mọi trường hợp Uỷ ban hoà giải không được phép dùng quyền tuỳ ý quyết định của mình thay cho quyền tuỳ ý quyết định của quốc gia ven biển”.

Qua những phân tích trên có thể thấy rằng việc sử dụng các thủ tục bắt buộc bằng toà án để giải quyết những tranh chấp liên quan đến việc quốc gia ven biển thi hành các quyền thuộc chủ quyền hay quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa bị hạn chế. Ngoài ra sự hạn chế này còn được bảo đảm bởi qui định của Khoản 1.b Điều 298. Theo khoản này thì những tranh chấp liên quan đến hoạt động nhằm bảo đảm việc tôn trọng các luật và qui định mà quốc gia ven biển ban hành để thực thi các quyền chủ quyền hoặc quyền tài phán, bị loại ra khỏi thẩm quyền của các toà án. Và như vậy, quyền của quốc gia ven biển nêu trong Điều 73 của Công ước “được thi hành mọi biện pháp, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để đảm bảo việc tôn trọng các luật và qui định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước” cũng sẽ không thuộc phạm vi giải quyết theo các thủ tục bắt buộc bằng toà án.

Điều 297 một mặt tạo ra các đảm bảo để tránh việc quốc gia ven biển lạm quyền, mặt khác không để các quốc gia khác quá lạm dụng những thủ tục tố tụng pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển.

1.2. Những vấn đề ngoại lệ không bắt buộc áp dụng Mục 2 Phần XV

Trong những tranh chấp xảy ra trên biển có một số loại tranh chấp rất quan trọng liên quan đến chủ quyền lãnh thổ như việc hoạch định ranh giới các vùng biển giữa các quốc gia có bờ biển nằm liên tiếp hay đối diện, hoặc liên quan đến an ninh quốc gia như hoạt động quân sự của nước ngoài trên các vùng biển của quốc gia ven biển… Vấn đề đặt ra là các loại tranh chấp quan trọng như vậy có được đưa ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án hay không? Tại Hội nghị Luật biển lần thứ III, xung quanh vấn đề phức tạp và tế nhị này đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận gay go. Có hai quan điểm chính như sau:

- Một số quốc gia đang phát triển lo sợ không có thực lực và đặc biệt do sự yếu kém về mặt quân sự, nên muốn dựa vào pháp luật và công lý để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình. Các quốc gia này ủng hộ việc áp dụng thủ tục giải quyết bắt buộc bằng toà án cho tất cả các loại tranh chấp, không có ngoại lệ.

- Các cường quốc phương Tây cùng một số quốc gia khác vốn lo ngại đặc biệt đến chủ quyền quốc gia khi giải quyết các tranh chấp quốc tế, cho rằng có những trường hợp ngoại lệ liên quan đến chủ quyền quốc gia không thể đưa ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án hoặc giao cho một bên thứ ba giải quyết.

Cuối cùng, Điều 298 đã qui định một số trường hợp ngoại lệ, dành cho các bên tranh chấp tự quyết định việc có hay không đưa ra các loại tranh chấp sau ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án:

+ Các tranh chấp liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển hay về các vịnh, danh nghĩa lịch sử;

+ Các tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự;

+ Các tranh chấp mà Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đang giải quyết.

Theo Khoản 1 Điều 298, khi ký, phê chuẩn hay gia nhập Công ước, hoặc vào bất kỳ thời điểm nào, một quốc gia có thể tuyên bố bằng văn bản hay không chấp nhận một hay nhiều thủ tục bắt buộc dẫn đến quyết định bắt buộc được qui định trong Mục 2 Phần XV (Toà án quốc tế về Luật biển, Toà án quốc tế, Toà án trọng tài, Toà án trọng tài đặc biệt) để giải quyết các tranh chấp thuộc ngoại lệ kể trên. Tuy nhiên, để có thể thoả mãn được yêu cầu của các quốc gia tham Công ước sau này, khi đi vào xử lý cụ thể từng loại tranh chấp đó, Điều 298 cũng đưa ra những qui định về cách giải quyết bổ sung.

Các tranh chấp liên quan đến việc hoạch định các vùng biển

 Khoản 1.a.i Điều 298 xác định loại tranh chấp này liên quan đến vấn đề hoạch định lãnh hải (Điều 15), vùng đặc quyền kinh tế (Điều 74) và thềm lục địa (Điều 83) và về các vịnh, vùng nước lịch sử.

Đối với loại tranh chấp này, nếu trong một thời gian hợp lý, các bên tranh chấp thông qua thương lượng vẫn không đi đến một thoả thuận nào thì theo yêu cầu của một bên, vụ tranh chấp sẽ được đưa ra giải quyết theo thủ tục hoà giải bắt buộc (Mục 2, Phụ lục V). Uỷ ban hoà giải sẽ làm báo cáo gửi các bên tranh chấp. Các bên tranh chấp sẽ tiếp tục thương lượng trên cơ sở báo cáo này để đi đến một thoả thuận. Nếu các cuộc thương lượng vẫn không thành công thì các bên, qua sự thoả thuận với nhau, đưa tranh chấp ra giải quyết theo những phương thức bắt buộc qui định trong Mục 2, Phần XV, trừ khi các bên tranh chấp có thoả thuận thêm khác.

Như vậy, rõ ràng là bất kỳ thủ tục giải quyết bắt buộc nào nêu trong Phần XV đều có thể được áp dụng trong trường hợp các bên tranh chấp không đạt được thoả thuận như qui định trong các Điều 15, 74 và 83. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, nếu một bên cho rằng thủ tục giải quyết bắt buộc là không thích hợp để giải quyết tranh chấp thì vẫn có thể viện dẫn Khoản 1 Điều 298, theo đó “khi ký, phê chuẩn, hay tham gia Công ước hoặc ở bất kỳ thời điểm nào sau đó…, một quốc gia có thể tuyên bố bằng văn bản rằng mình không chấp nhận một hay nhiều thủ tục bắt buộc đối với các tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng các Điều 15, 74 và 83 liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển”.

Theo qui định trên của Công ước, khi xảy ra tranh chấp liên quan tới các quốc gia đã tuyên bố theo Khoản 1 Điều 298 thì quốc gia tranh chấp khác không được áp dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc. Các thủ tục giải quyết bắt buộc này chỉ được áp dụng nếu như các bên tranh chấp đều đồng ý chấp thuận. Qua đây có thể thấy rằng cơ sở của việc lựa chọn các thủ tục bắt buộc để giải quyết các tranh chấp về hoạch định ranh giới các vùng biển là nguyên tắc thoả thuận.

Tinh thần của Điều 298 là muốn các bên tranh chấp, bằng cách này hay cách khác, giải quyết cho bằng được tranh chấp về hoạch định ranh giới các vùng biển giữa họ với nhau, hoặc qua thương lượng hoặc bằng hoà giải. Trong trường hợp hoà giải cũng bị thất bại thì, theo qui định và nếu thoả thuận được, các bên đưa tranh chấp ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án. Song nếu các bên không thoả thuận được về việc đưa ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án thì tranh chấp sẽ được giải quyết tiếp như thế nào? Với qui định như trình bày trong Khoản 1.a.i. của Điều 298 thì không nhất thiết phải đưa tranh chấp ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án nếu như các bên tranh chấp không chấp nhận.

Ngoài ra, Khoản 1.a.i. Điều 298 còn qui định rằng cách giải quyết như nêu trên không được áp dụng cho tranh chấp về hoạch định ranh giới các vùng biển, vịnh hay vùng nước lịch sử xảy ra trước khi Công ước có hiệu lực hoặc đã được các bên giải quyết dứt khoát bằng một thoả thuận.

Các tranh chấp liên quan đến hoạt động quân sự

Khoản 1.b Điều 298 qui định các tranh chấp sau đây được sắp xếp vào loại ngoại lệ không được đưa ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án:

- Tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự, kể cả các hoạt động quân sự cứu tàu thuyền và phương tiện bay của Nhà nước được sử dụng cho một dịch vụ không có tính chất thương mại;

- Tranh chấp liên quan đến những hành động bắt buộc chấp hành luật đã được thực hiện khi quốc gia ven biển thi hành các quyền chủ quyền hay quyền tài phán mà các khoản 2 và 3 của Điều 297 đã loại ra khỏi thẩm quyền của Toà án.

Các tranh chấp thuộc quyền giải quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc

Theo qui định của khoản 1.c Điều 298 thì các quốc gia thành viên Công ước có quyền không đưa ra các tranh chấp mà Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có thẩm quyền xem xét, ra giải quyết theo thủ tục bắt buộc bằng toà án. Về bản chất, các tranh chấp loại này mặc dù liên quan đến việc áp dụng Công ước song lại là các tranh chấp mang tính chính trị, có khả năng đe doạ đến hoà bình và an ninh quốc tế.

Nhưng khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã quyết định xoá vấn đề tranh chấp trong chương trình nghị sự của mình hay yêu cầu các bên giải quyết tranh chấp giữa họ bằng các thủ tục được qui định trong Công ước, thì các bên vẫn có thể áp dụng thủ tục bắt buộc để giải quyết các tranh chấp loại này.

Với qui định về những tranh chấp không thuộc phạm vi giải quyết của các thủ tục bắt buộc và các ngoại lệ mà các bên tranh chấp có quyền tự quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đưa ra giải quyết tranh chấp theo các thủ tục bắt buộc này, Công ước đã tạo ra được một sự cân bằng về quyền lợi giữa các quốc gia thành viên.

Các tranh chấp liên quan đến khu vực đáy biển (Vùng)

Các hoạt động thăm dò và khai thác tiến hành trong Vùng (Sea-Bed Area) đều được cơ quan quyền lực thay mặt cho toàn thể loài người tổ chức, thực hiện và kiểm soát. Trong trường hợp nếu cơ quan quyền lực không tự mình tiến hành thì các hoạt động thăm dò và khai thác phải được thực hiện theo hình thức hợp đồng với Cơ quan quyền lực (Khoản 3 Điều 153). Từ qui định này có thể xảy ra các tranh chấp giữa các bên ký kết hợp đồng với nhau về việc lựa chọn các “lô” khai thác. Loại tranh chấp này về thực chất không khác các tranh chấp phát sinh từ việc cho phép khai thác trên cơ sở hợp đồng tô nhượng trong nội luật của mỗi quốc gia. Về nguyên tắc, các tranh chấp liên quan đến việc ký kết hợp đồng với cơ quan quyền lực cũng như nội dung của hợp đồng đó, phải được giải quyết bằng các quyết định hành chính.

Với tinh thần này, một Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của Toà án quốc tế về Luật biển đã được thành lập theo Mục 3 Phần XI Công ước. Viện này có thẩm quyền xét xử những tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Phần XI cũng như các tranh chấp giữa một quốc gia thành viên và Cơ quyền lực liên quan đến hành vi thiếu sót của một bên ký kết hợp đồng liên quan đến các hoạt động trong Vùng (Điều 187). Các quyết định của Viện có hiệu lực trên lãnh thổ của quốc gia thành viên và được coi là có giá trị pháp lý bắt buộc giống như các quyết định hay lệnh của các cơ quan pháp luật cao nhất của quốc gia thành viên (Điều 39 Phụ lục VI).

Tuy nhiên Điều 189 cũng đã giới hạn thẩm quyền của Viện, không cho phép phán xét đối với việc Cơ quan quyền lực, theo đúng Phần XI, thi hành các quyền tuỳ ý quyết định của mình và thay thế Cơ quan quyền lực trong việc thi hành các quyền tuỳ ý quyết định nói trên.

Việc thành lập ra Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển trong khuôn khổ Toà án quốc tế về Luật biển có ý nghĩa quan trọng và hoàn toàn phù hợp với thực tế khai thác Vùng trong tương lai không xa.

Các tranh chấp về việc giải phóng ngay tàu thuyền và đoàn thuỷ thủ bị bắt giữ

Công ước Luật biển năm 1982 đã tạo ra được sự cân bằng giữa việc quốc tế hoá chế độ hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế và việc bảo vệ các quyền của quốc gia ven biển khi qui định về quyền đi qua, quá cảnh và bảo vệ môi trường biển. Thực hiện quyền kiểm soát của mình, quốc gia ven biển có quyền bắt giữ tàu thuyền và đoàn thuỷ thủ trên tàu thuyền đó của một quốc gia khác khi tàu thuyền này có hành vi vi phạm. Song một khi đã có một khoản tiền bảo lãnh hợp pháp được gửi hay một khoản bảo đảm tài chính khác mà quốc gia ven biển vẫn không tiến hành giải phóng tàu và đoàn thuỷ thủ thì sẽ làm phát sinh tranh chấp. Các tranh chấp này là đối tượng điều chỉnh của Điều 292.

Điều 292 qui định trong trường hợp phát sinh tranh chấp loại trên thì phải đưa ra trước một toà án do các bên chỉ định theo thoả thuận chung để giải quyết. Nếu các bên không thoả thuận được trong thời hạn 10 ngày kể từ lúc bắt giữ tàu hay đoàn thuỷ thủ, tranh chấp có thể đưa ra trước một toà án được quốc gia bắt giữ tàu hay đoàn thuỷ thủ chấp nhận theo đúng Điều 287, hay trước Toà án quốc tế về Luật biển, trừ khi các bên có sự thoả thuận khác.

Toà án được giao giải quyết tranh chấp nhanh chóng xem xét và chỉ xét xử vấn đề giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thuỷ thủ. Điều kiện thực chất để giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thuỷ thủ là phải có một khoản tiền bảo lãnh hay một khoản bảo đảm tài chính. Các quốc gia ven biển cho rằng việc qui định cụ thể khoản tiền bảo lãnh hay khoản bảo đảm tài chính là thuộc thẩm quyền tuỳ ý của mình. Để được chấp nhận như vậy, các quốc gia ven biển phải đồng ý để có thể đưa tranh chấp ra giải quyết trước Toà án quốc tế về Luật biển. Tuy nhiên khả năng phải đưa tranh chấp ra giải quyết trước Toà án quốc tế về Luật biển là rất ít vì các bên tranh chấp có thời hạn 10 ngày để chỉ định ra một toà án có thẩm quyền giải quyết. Còn sau thời hạn 10 ngày, mục tiêu “nhanh chóng giải phóng tàu hay trả tự do đoàn thuỷ thủ bị bắt giữ” sẽ mất đi ý nghĩa. Ngoài ra, theo Khoản 3 Điều 292, quốc gia bắt giữ tàu có quyền ra lệnh giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thuỷ thủ vào bất kỳ lúc nào.

Yêu cầu giải phóng tàu hay trả tự do cho đoàn thuỷ thủ chỉ có thể do quốc gia mà tàu mang cờ hoặc nhân danh quốc gia này đưa ra, song luôn đi kèm theo điều kiện: yêu cầu chỉ được đưa ra sau khi đã ký một khoản tiền bảo lãnh hay một khoản bảo đảm tài chính.

Quyết định của Toà án giải quyết tranh chấp này có tính chất bắt buộc. Ngay khi nhận được một khoản tiền hay một khoản bảo đảm tài chính theo quyết định của toà án, quốc gia đã bắt giữ phải tuân theo quyết định của toà án về việc giải phóng tàu và trả tự do cho đoàn thủ thuỷ.

2. Các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc theo Công ước

2.1. Toà án quốc tế

Toà án quốc tế là một trong 6 cơ quan chính của Tổ chức Liên hợp quốc. Toà án gồm 15 thẩm phán do Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc bầu ra dựa trên các tiêu chuẩn về tư cách đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp và năng lực hiểu biết về luật pháp quốc tế (những người trúng cử là những ứng cử viên được tuyệt đại đa số phiếu bầu ở cả Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an).

Qui chế Toà án quốc tế (Điều 26, 29) còn cho phép thành lập các Viện của Toà bao gồm từ 3 thẩm phán của Toà trở lên để giải quyết một loại tranh chấp nào đó hay một tranh chấp cụ thể. Thành phần mỗi Viện do Toà án quốc tế quyết định sau khi tham khảo các bên tranh chấp. Trong những trường hợp này, quan điểm cá nhân của từng thẩm phán được chọn tham gia Viện sẽ có ý nghĩa quan trọng.

Thẩm quyền của Toà án quốc tế

Toà có thẩm quyền xét xử các tranh chấp giữa các quốc gia và thẩm quyền cho ý kiến tư vấn. Theo qui định của Hiến chương Liên hợp quốc, mọi thành viên của Liên hợp quốc đương nhiên là thành viên của Qui chế Toà án quốc tế. Ngoài ra, các quốc gia không phải là thành viên của Liên hợp quốc cũng có thể trở thành thành viên của Qui chế Toà án quốc tế theo những điều kiện do Đại hội đồng Liên hợp quốc ấn định cho từng trường hợp theo một khuyến nghị của Hội đồng Bảo an. Tầm quan trọng của việc trở thành thành viên Qui chế Toà án quốc tế là ở chỗ quốc gia từ đó ra tuyên bố theo Điều 36 Qui chế của Toà, chấp nhận quyền tài phán bắt buộc của Toà án quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan.

Chỉ có các quốc gia mới có thể đưa tranh chấp của mình ra giải quyết trước Toà án quốc tế (Điều 34 Qui chế Toà án quốc tế). Tuy nhiên, Toà án quốc tế yêu cầu các tổ chức quốc tế cung cấp thông tin liên quan đến một vụ kiện hay có ý nghĩa vụ tiếp nhận thông tin mà các tổ chức quốc tế tự nguyện cung cấp. Khi toà xem xét một vụ kiện liên quan tới điều lệ của một tổ chức quốc tế, tổ chức đó phải được thông báo và có quyền nhận bản sao của mọi văn bản liên quan tới vụ kiện.

Liên hợp quốc, vì không phải là một quốc gia, nên cũng không có quyền ra trước Toà như một bên tranh chấp, nhưng lại có quyền, thông qua Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an, yêu cầu Toà án quốc tế cho ý kiến tư vấn về bất kỳ vấn đề pháp lý nào, kể cả vấn đề pháp lý liên quan đến tranh chấp mà Liên hợp quốc là một bên.

Điều 36 (1) Qui chế Toà án quốc tế qui định Toà án quốc tế có quyền tài phán trong mọi trường hợp được các bên đưa ra Toà và liên quan đến tất cả các vấn đề được đặc biệt qui định trong Hiến chương của Liên hợp quốc hoặc các điều ước hiện hành. Yếu tố chủ chốt ở đây là thoả thuận của các bên tranh chấp đưa ra giải quyết trước Toà án quốc tế. Thoả thuận như vậy không nhất thiết phải theo một thể thức nào và trong một số hoàn cảnh, Toà án sẽ căn cứ vào hành vi của các bên mà quyết định rằng họ có thoả thuận hay không.

Luật áp dụng

Theo Điều 38 qui chế Toà án quốc tế, khi thực hiện việc xét xử, Toà sẽ áp dụng các qui phạm của luật quốc tế, gồm các điều ước, tập quán, các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế, các phán quyết tư pháp quốc tế và ý kiến của những học giả danh tiếng. Đồng thời Toà án quốc tế cũng có thể xét xử trên cơ sở công lý và công bằng, không bị ảnh hưởng bởi các qui tắc kỹ thuật pháp lý.

Thi hành phán quyết

Một khi phán quyết đã được Toà án quốc tế đưa ra, nó mang tính chất tối hậu, không thể kháng cáo và có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp (Điều 59, 60 Qui chế Toà án quốc tế). Phán quyết phải trình bày các luận cứ và tên các thẩm phán tham gia phán quyết; các thẩm phán có ý kiến phản đối có quyền có ý kiến viết riêng kèm theo phán quyết. Các phán quyết của Toà án quốc tế đã có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình phát triển các qui phạm của luật pháp quốc tế.

2.2. Toà án quốc tế về luật biển

 Gồm 21 thẩm phán độc lập được các quốc gia thành viên Công ước bầu theo các tiêu chuẩn công bằng, liêm khiết, có năng lực rõ ràng trong lĩnh vực luật biển và đảm bảo sự đại diện của các hệ thống pháp lý chủ yếu của thế giới và phân chia công bằng về địa lý (Toà án không thể có quá một công dân của cùng quốc gia).

Qui chế Toà án quốc tế về Luật biển về cơ bản giống như qui chế của Toà án quốc tế. Tuy nhiên cũng có một số điểm khác nhau giữa hai cơ chế xét xử:

i) Thẩm phán của Toà án quốc tế về Luật biển phải “có năng lực rõ ràng trong lĩnh vực luật biển”, trong khi thẩm phán Toà án quốc tế phải có “năng lực được công nhận về luật pháp quốc tế”.

ii) Toà án quốc tế về luật biển không có thẩm quyền đưa ra các ý kiến tư vấn như của Toà án quốc tế.

iii) Cũng như Toà án quốc tế, các quốc gia thành viên Công ước đương nhiên có quyền đưa tranh chấp ra trước Toà án quốc tế về Luật biển để giải quyết. Song khác với Toà án quốc tế, các thực thể không phải là thành viên Công ước cũng có thể đưa ra trước Toà án quốc tế về Luật biển để giải quyết các tranh chấp thuộc phần XI hay bất kỳ tranh chấp nào khác nếu tất cả các bên tranh chấp chấp thuận.

iv) Toà án quốc tế về Luật biển có riêng một cơ chế chuyên giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy đại dương, đó là Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển.

Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển

Đây là một cơ quan xét xử chuyên môn đặc biệt gồm 11 thành viên do Toà án quốc tế về Luật biển lựa chọn trong các thẩm phán đã được bầu của Toà án. Việc bầu chọn các thẩm phán thành viên của Viện này cũng phải đảm bảo đại diện cho các hệ thống pháp lý chủ yếu trên thế giới và một sự phân chia công bằng về địa lý.

Viện có thẩm quyền đối với các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, Cơ quan quyền lực và các thực thể hay cá nhân nói ở Mục 5 của Phần XI, phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác tài nguyên ở đáy biển. Ngoài ra, Viện còn có thẩm quyền đưa ra ý kiến tư vấn theo yêu cầu của Hội đồng hoặc Đại hội đồng thuộc cơ quan quyền lực đáy biển.

Trong quá trình tố tụng trước Viện, luật áp dụng không phải chỉ gồm các qui định của Công ước Luật biển năm 1982 mà còn bao gồm cả các qui tắc, luật lệ và thủ tục của Cơ quan quyền lực, cũng như các điều khoản của bất kỳ hợp đồng nào liên quan đến các hoạt động tiến hành trong Vùng về tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng đó.

Theo yêu cầu của các bên tranh chấp, Viện giải quyết các tranh chấp ở đáy đại dương có thể thành lập một Viện ad hoc để giải quyết một vụ việc cụ thể. Trong trường hợp đó, Chánh Toà án quốc tế về Luật biển sẽ tham khảo các bên tranh chấp để đạt được thoả thuận về thành viên của Viện ad hoc xem xét vụ việc đó. Thủ tục này, tương tự như Viện ad hoc của Toà án quốc tế.

2.3. Toà trọng tài theo Phụ lục VII và Toà trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII

Các thủ tục của Công ước Luật biển đều được xây dựng trên những nguyên tắc chính của chế định trọng tài trong luật pháp quốc tế hiện đại, gồm:

i) Các bên tranh chấp được quyền lựa chọn trọng tài viên và thoả thuận về người chủ trì Toà trọng tài trong từng vụ việc cụ thể.

ii) Các bên tranh chấp thoả thuận về thủ tục làm việc, phạm vi và bản chất của các qui tắc áp dụng trong các phiên hợp của Toà trọng tài, cũng như ấn định những giới hạn mà họ thoả thuận đối với Toà trọng tài.

iii) Quyết định trọng tài thường dựa trên các qui phạm chung của luật pháp quốc tế hoặc các qui tắc công bằng hay đặc biệt được các bên thoả thuận. Quyết định trọng tài mang tính tối hậu và bắt buộc. Tranh chấp về việc giải thích hay thi hành quyết định trọng tài có thể được đưa ra giải quyết tại chính Toà trọng tài đã phán quyết hoặc bất kỳ Toà án tư pháp hay Trọng tài quốc tế nói trong Điều 287 của Công ước.

Điểm khác biệt đáng kể của thủ tục trọng tài theo Công ước Luật biển so với thủ tục trọng tài thông thường là theo Điều 1 của Phụ lục VII và Điều 1 Phụ lục VIII, tranh chấp có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục trọng tài ngay cả khi chỉ có một bên yêu cầu. Trong khi đó, thủ tục trọng tài thông thường đòi hỏi có sự thoả thuận bằng văn bản của tất cả các bên tranh chấp, thậm chí ngay cả trong trường hợp đã tồn tại một hiệp định về trọng tài giữa các bên tranh chấp.

Riêng Toà trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII được hình thành để giải quyết một số loại tranh chấp cụ thể như đánh bắt hải sản, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, hàng hải. Đòi hỏi quan trọng nhất về tiêu chuẩn đối với trọng tài viên đặc biệt là kiến thức chuyên môn trong các lĩnh vực cụ thể  nêu trên. Danh sách các chuyên gia có thể làm trọng tài viên cho Toà trọng tài đặc biệt do các tổ chức chuyên môn hữu quan thiết lập và lưu giữ. Toà trọng tài đặc biệt còn được Công ước cho phép thực hiện các chức năng điều tra và đưa ra các khuyến nghị theo yêu cầu của tất cả các bên tranh chấp.

3. Qui định về việc lựa chọn các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc

3.1. Tuyên bố lựa chọn

Theo qui định của Công ước Luật biển, các quốc gia thành viên không bắt buộc phải áp dụng tất cả các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc mà Công ước trù định. Mỗi quốc gia khi tham gia Công ước có quyền lựa chọn một hay nhiều thủ tục được qui định trong Điều 287 để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước. Qui định này thể hiện tính linh hoạt, uyển chuyển trong việc cho phép lựa chọn thủ tục giải quyết bắt buộc thích hợp và hoàn toàn khác với cơ chế được qui định trong Nghị định thư giải quyết tự nguyện các tranh chấp phát sinh từ 4 Công ước Giơ-ne-vơ về Luật biển năm 1958.

Về thể thức lựa chọn, Công ước qui định rằng quốc gia thành viên phải có tuyên bố bằng văn bản, hoặc vào thời điểm ký, phê chuẩn hay gia nhập Công ước, hoặc vào bất kỳ thời điểm nào sau đó.

Đáng chú ý là một bản tuyên bố lựa chọn thủ tục giải quyết bắt buộc sẽ không ảnh hưởng đến nghĩa vụ của quốc gia thành viên phải chấp nhận, trong phạm vi và theo các thể thức được trù định ở Mục 5 của Phần XI, thẩm quyền của Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển thuộc Toà án quốc tế về Luật biển và tuyên bố đó cũng không bị nghĩa vụ này tác động đến.

Tuyên bố lựa chọn thủ tục giải quyết bắt buộc phải được thông báo cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc để lưu chiểu và Tổng Thư ký Liên hợp quốc chuyển các bản sao gửi cho các quốc gia thành viên khác.

3.2. Rút tuyên bố

Trong trường hợp có thay đổi đối với việc lựa chọn thủ tục giải quyết bắt buộc, quốc gia thành viên phải có tuyên bố bằng văn bản và thông báo cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Trong khoảng thời gian 3 tháng kể từ khi gửi thông báo huỷ bỏ, một tuyên bố đã có vẫn tiếp tục có hiệu lực. Một tuyên bố mới, một thông báo huỷ bỏ hay một tuyên bố hết hạn không hề ảnh hưởng đến thủ tục đang được tiến hành trước một toà án có thẩm quyền, trừ khi các bên có thoả thuận khác.

3.3. Trường hợp không có tuyên bố lựa chọn

Nếu một quốc gia thành viên Công ước là một bên của tranh chấp chưa tuyên bố lựa chọn thủ tục giải quyết bắt buộc nói ở phần trên, thì mặc nhiên được coi là chấp nhận thủ tục trọng tài theo Phụ lục VII. Thậm chí ngay cả trong trường hợp quốc gia này đã tuyên bố lựa chọn một thủ tục giải quyết bắt buộc song tuyên bố này đã hết hiệu lực trước khi phát sinh tranh chấp thì cũng vẫn bị coi là chấp nhận thủ tục trọng tài.

3.4. Trường hợp các bên tranh chấp không chấp nhận cùng một thủ tục giải quyết tranh chấp.

Trong trường hợp này, không thể áp đặt thủ tục do bất kỳ bên nào lựa chọn đối với bên kia. Tranh chấp chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục trọng tài được trù định ở Phụ lục VII, trừ khi các bên có thoả thuận khác. Còn trong trường hợp nếu các bên tranh chấp đã chấp nhận cùng một thủ tục để giải quyết tranh chấp thì tranh chấp chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục đó. Chỉ khi các bên có thoả thuận chọn một thủ tục khác để giải quyết thì họ có thể thay đổi thủ tục giải quyết.

Nhìn chung, các qui định về thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc; về lựa chọn, tuyên bố lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp vẫn đề cao và đảm bảo yếu tố thoả thuận của các quốc gia. Mặc dù hệ thống các thủ tục bắt buộc này nhằm ràng buộc các quốc gia với nghĩa vụ giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế và cung cấp cơ chế giải quyết tranh chấp ngay cả trong trường hợp các thủ tục không bắt buộc không thành công, nó vẫn đảm bảo chủ quyền quốc gia trong việc lựa chọn và sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp./.

An Bình

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Ngày 7/6, Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan đã tổ chức buổi gặp mặt với chủ đề “Người Việt Nam đang sống, làm việc, học tập tại Thái Lan hướng về quê hương,...
Vấn đề bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập, xây dựng cũng như duy trì một trật tự quốc tế trong quan...
Hầu hết các đường biên giới đất liền của các nước trên thế giới ra đời từ cách đây không lâu lắm, hơn một nửa trong số đó được hình thành sau năm 1900,...
10 ngày trên biển, được đặt chân lên những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa, gặp gỡ những người lính Trường Sa, Nhà giàn DK1 tuy không phải thời gian quá...
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Đảo xa vang lời ca tiếng máy