Cập nhật: 10:01 GMT + 7, Thứ năm ngày 24/01/2019
Luật pháp quốc tế
KHÁI NIỆM TRANH CHẤP THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982 (Tiếp theo kỳ trước)
(12/07/2013)

Nội dung Phần XV và các Phụ lục VI, Phụ lục VIII của Công ước qui định: “Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các biện pháp hoà bình…” (Điều 279).

1. Chủ thể của các tranh chấp

Theo điều 279 chỉ có các tranh chấp giữa các quốc gia (là thành viên của Công ước) mới được xem xét. Tuy nhiên, vấn đề chủ thể của các tranh chấp vẫn cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn để có thể phân biệt được các loại tranh chấp qui định trong Phần XV và phần XI của Công ước. Ngoài những tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, khác với Phần XV, Phần XI Mục 5 qui định rõ thẩm quyền của Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của Toà án quốc tế về luật biển có thẩm quyền xét xử các loại tranh chấp giữa một quốc gia thành viên và cơ quan quyền lực, giữa các bên ký kết một hợp đồng, giữa Cơ quan quyền lực và một người khởi kiện được quốc gia bảo trợ, giữa Cơ quan quyền lực và một quốc gia thành viên (điều 187).

Các tranh chấp liên quan đến luật biển giữa một quốc gia và một tự nhiên nhân cũng bị Điều 279 loại ra khỏi phạm vi áp dụng của Phần XV vì Phần này chỉ giới hạn thẩm quyền xét xử của Toà án quốc tế về luật biển cho các tranh chấp giữa các quốc gia. Để đảm bảo cho quyền lợi của tự nhiên nhân là công dân của mình, các quốc gia sẽ có trách nhiệm sử dụng cơ chế “bảo hộ ngoại giao”.

Theo Công ước, chỉ riêng việc tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thì chưa đủ để được giải quyết theo những qui định về giải quyết tranh chấp. Điều quan trọng là các tranh chấp đó phải phát sinh giữa các quốc gia thành viên của Công ước. Hai điều kiện cần thiết được nêu ra khi áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thích hợp của Công ước:

- Quốc gia là một bên của tranh chấp phải ký và phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước.

- Bản thân Công ước phải đã có hiệu lực (một năm sau khi nước thứ 60 phê chuẩn) và cũng đã có hiệu lực đối với quốc gia là một bên tranh chấp (30 ngày sau khi các văn kiện phê chuẩn của quốc gia đó được gửi tới ông Tổng Thư ký Liên hợp quốc để lưu chiểu). Công ước Luật Biển năm 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994.

2. Đối tượng của các tranh chấp

Mọi tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên về việc giải thích hay áp dụng Công ước Luật Biển năm 1982 đều là đối tượng để xem xét giải quyết theo các qui định của Phần XV.

Về sự tồn tại tranh chấp: Công ước không nêu rõ các điều kiện để làm phát sinh một tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Trên thực tiễn quốc tế, các quốc gia hầu như đã chấp nhận cách giải thích của Toà án quốc tế, coi “tranh chấp” là “một sự bất đồng về quan điểm”.

Thực tiễn của Toà án quốc tế cho thấy Toà thường lấy thời điểm ghi trong đơn khởi kiện để xác định sự tồn tại của tranh chấp giữa các bên. Để làm rõ được điều này, Toà còn kiểm tra xem xét bên bị đơn có phản bác lại yêu cầu của bên khởi kiện không. Mặc dù hình thức của tranh chấp ít được coi trọng, song các cơ quan xét xử quốc tế luôn đòi hỏi cần phải trình bày cụ thể về đối tượng tranh chấp để dễ dạng nhận thấy rằng đó là “một sự bất đồng về quan điểm không thể giải quyết bằng cách nào khác”11.

Tranh chấp về giải thích hay áp dụng Công ước: Chỉ những tranh chấp có đối tượng liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước mới thuộc phạm vi điều chỉnh của hệ thống giải quyết tranh chấp nêu trong Công ước. Thoạt nhìn, qui định trên dường như đã hạn chế phạm vi áp dụng của hệ thống giải quyết tranh chấp này theo Công ước Luật Biển năm 1982. Song trên thực tế, bất kỳ một tranh chấp nào mà việc đạt được một giải pháp phải viện dẫn đến Công ước đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Phần XV.

3. Các nguyên tắc chủ đạo của hệ thống giải quyết tranh chấp

Qua quá trình thương lượng tại Hội nghị luật biển lần thứ III và những kết quả được ghi nhận trong các điều khoản của Công ước Luật Biển năm 1982, có thể rút ra một số nguyên tắc chủ đạo trong việc giải quyết các tranh chấp.

3.1. Các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình

Đây là một nguyên tắc quan trọng hàng đầu, theo đó, khi xuất hiện tranh chấp các quốc gia phải sử dụng các biện pháp hoà bình để giải quyết. Điều khoản đầu tiên trong phần XV (điều 279) đã qui định rõ: “Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về giải thích hay áp dụng Công ước bằng các biện pháp hoà bình theo đúng điều 2, khoản 3 của Hiến chương Liên hợp quốc và, vì mục đích này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các phương pháp đã được nêu ở điều 33, khoản 1 của Hiến chương”.

Qui định trên là những nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước. Nghĩa vụ này hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại như: giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, cấm sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế… Điều 279 cũng còn viện dẫn đến các biện pháp giải quyết tranh chấp nêu trong điều 33, khoản 1 của Hiến chương Liên hợp quốc như: thương lượng, hoà giải, điều tra, trọng tài, toà án…”. Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, với cách qui định như trên về nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, không có sự khác biệt với nguyên tắc giải quyết hoà bình tranh chấp trong luật pháp quốc tế.

3.2. Các quốc gia trước hết tiến hành thương lượng ngoại giao để giải quyết tranh chấp

Trong quá trình thương lượng tại Hội nghị luật Biển lần thứ III, đại diện nhiều quốc gia đã nhấn mạnh đến vai trò của thương lượng ngoại giao trong việc giải quyết tranh chấp. Điều 283 Công ước Luật Biển năm 1982 ghi nhận vai trò của thương lượng ngoại giao như sau: “Khi có một tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, các bên tranh chấp tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng biện pháp hoà bình khác”.

Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, việc trao đổi ý kiến được coi là bước đầu để dẫn đến thương lượng ngoại giao. Cũng theo điều 283, thương lượng ngoại giao được coi là ưu tiên và được nói rõ hơn so với các biện pháp hoà bình khác. Đây cũng là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia, khi có các tranh chấp xảy ra, nếu các bên tiến hành thương lượng một cách thiện chí thì khả năng đi đến một giải pháp thoả đáng, thậm chí không cần phải sử dụng các biện pháp khác.

Điều 283 còn qui định các bên tranh chấp có nghĩa vụ trao đổi ý kiến khi xảy ra tranh chấp, và tiếp tục trao đổi ý kiến ngày cả sau khi đã sử dụng một biện pháp khác nhưng vẫn chưa đi đến kết quả nào. Qui định này là rất cần thiết để làm cho các bên tranh chấp liên tục tiếp xúc, đối thoại với nhau qua thương lượng. Ngay cả trong trường hợp các bên tranh chấp đã đạt được giải pháp cho tranh chấp song khi thực hiện gặp trở ngại thì các bên tiếp tục trao đổi ý kiến để tìm cách thực hiện giải pháp vẫn là cần thiết.

Như vậy, trong một vụ tranh chấp, các bên đương sự phải trực tiếp chịu trách nhiệm trong việc giải quyết vấn đề cho đến khi kết thúc. Các qui định về trao đổi ý kiến, thương lượng ngoại giao trực tiếp là nhằm đảm bảo chủ quyền của các bên tranh chấp.

3.3. Các quốc gia có quyền tự do lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp

Việc Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển 1982 dành cho các quốc gia quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hoàn toàn phù hợp với tính chất hoà bình của các biện pháp được sử dụng để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia. Trong Công ước không có bất kỳ một qui định nào bắt buộc các quốc gia thành viên khi giải quyết tranh chấp phải ưu tiên hoặc chấp nhận thủ tục ngoại giao hay pháp lý. Điều 280 (Phần XV) của Công ước quy định rõ: “Không một qui định nào của Phần này ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia thành viên đi đến thoả thuận giải quyết vào bất kỳ lúc nào, bằng bất kỳ biện pháp hoà bình nào theo sự lựa chọn của mình một vụ tranh chấp xảy ra giữa họ về vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước”. Như vậy, tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là quyền của các quốc gia thành viên Công ước và các quốc gia có thể lựa chọn bất kỳ phương thức nào, trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Ngoài ra, Điều 282 của Công ước còn mở rộng các phương thức giải quyết mà các bên tranh chấp có thể cùng nhau thoả thuận bằng cách thông qua các hiệp định chung, khu vực hay song phương. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hiệu quả trong việc giải quyết triệt để tranh chấp và tránh sự lạm quyền của các quốc gia chi muốn lựa chọn các thủ tục giải quyết không bắt buộc, Điều 282 còn qui đinh trước hết phải áp dụng các thủ tục được trù định trong khuôn khổ của hiệp định chung, khu vực hay song phương về giải quyết tranh chấp liên quan đến giải thích hay áp dụng Công ước. Chỉ trong trường hợp các bên tranh chấp có thoả thuận khác thì mới áp dụng những thủ tục được qui định trong Phần XV hoặc giải quyết theo một cách khác. Có thể thấy, quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp và sự thoả thuận của các quốc gia về vấn đề này luôn được ưu tiên đặt lên hàng đầu.

Về việc lựa chọn thủ tục để giải quyết tranh chấp, các quốc gia tham gia tranh chấp cũng được quyền tự do lựa chọn. Các quốc gia có thể lựa chọn thủ tục hoà giải (Điều 284) mà kết luận không có tính bắt buộc, hoặc lựa chọn các thủ tục toà án bắt buộc của quyết định có tính chất bắt buộc. Đối với các thủ tục toà án, do tính chất bắt buộc của quyết định nên Công ước đã qui định rất cụ thể về việc lựa chọn thủ tục này. Theo Điều 287: “Khi ký hay phê chuẩn Công ước hoặc tham gia Công ước, hay ở bất kỳ thời điểm nào sau đó, một quốc gia được quyền tự do lựa chọn, dưới hình thức tuyên bố bằng văn bản, một hay nhiều biện pháp sau đây để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước:

+ Toà án quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VI;

+ Toà án quốc tế;

+ Một Toà trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII;

+ Một Toà trọng tài đặc biệt được thành lập theo Phụ lục VIII để giải quyết một hay nhiều loại tranh chấp đã được quy định rõ trong đó.

Trong trường hợp các bên tranh chấp cùng tuyên bố chấp nhận một trong số thủ tục trên, thì vụ tranh chấp chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục đó, trừ khi các bên có thoả thuận khác (khoản 4 Điều 287). Còn nếu các bên tranh chấp không cùng chấp nhận một thủ tục để giải quyết thì vụ tranh chấp chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục trọng tài trù định trong Phụ lục VII. Thậm chí trong trường hợp một quốc gia thành viên chưa tuyên bố lựa chọn bất kỳ thủ tục xét xử nào nêu trong khoản 1 Điều 287 thì vẫn được xem là đã chấp nhận thủ tục trọng tài được trù định ở Phụ lục XII (khoản 3 Điều 287). Qui định này của Công ước là hoàn toàn có thể hiểu được vì giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài có những ưu thế cơ bản như quyết định của trọng tại là bắt buộc và các bên tranh chấp được quyền tác động, tham gia tích cực vào thủ tục xét xử thông qua việc cử trọng tài viên… Nhìn chung, cơ chế giải quyết tranh chấp theo Phần XV Công ước có xu hướng thiên về thể chế hoá nghĩa vụ giải quyết bắt buộc các tranh chấp bằng toà án. Điều này được thể hiện qua tiến trình giải quyết tranh chấp đã trù định trong Phần XV, bao gồm hai giai đoạn:

- Giai đoạn đầu gồm các giải pháp không bắt buộc trong khuôn khổ thương lượng ngoại giao và hoà giải;

- Giai đoạn tiếp theo bao gồm các thủ tục bắt buộc nhằm giải quyết triệt để để tranh chấp trong trường hợp giai đoạn đầu bị thất bại.

3.4. Các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau

Theo nguyên tắc thứ 3 đã được trình bày ở trên, các quốc gia là những bên tranh chấp có quyền tự do rất rộng rãi trong việc cùng nhau thoả thuận để lựa chọn các phương thức nhằm giải quyết tranh chấp một cách có hiệu quả. Song cuối cùng, nếu các phương thức được lựa chọn vẫn không mang lại kết quả thì một trong các bên tranh chấp có thể đưa tranh chấp ra trước một cơ quan có thẩm quyền để xét xử và cơ quan xét xử này sẽ đưa ra quyết định có tính chất bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành (Mục 2, Phần XV Công ước tập trung giải quyết vấn đề này).

Như vậy, với mục đích giải quyết triệt để tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, bằng những qui định cụ thể (trong mục 2 Phần XV), Công ước đã tạo ra nghĩa vụ cho các quốc gia phải giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, không phải tất cả các tranh chấp đều có thể đưa ra giải quyết trước sự xét xử để đưa đến một quyết định có tính chất bắt buộc. Công ước có qui định một số trường hợp ngoại lệ không đưa tranh chấp ra giải quyết trước cơ quan xét xử hoặc theo bất kỳ một thủ tục nào khác. Đó là:

- Những vấn đề không thuộc phạm vi đưa ra giải quyết trước cơ quan xét xử: các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền về tài nguyên sinh vật hoặc quyền tài phán về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (Điều 297);

- Những vấn đề ngoại lệ thuộc quyền quyết định của quốc gia tranh chấp có đưa hay không đưa ra giải quyết trước toà án: các tranh chấp liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển, hoạt động quân sự hoặc thuộc thẩm quyền của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (Điều 298).

Tóm lại, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 bao gồm nhiều vấn đề với một nội dung phức tạp, phản ánh sự thoả hiệp về quyền lợi giữa các quốc gia, các nhóm quốc gia khác nhau. Việc giải quyết và áp dụng Công ước không tránh khỏi những mâu thuẫn, khó khăn, phức tạp. Vì vậy, nhiều quốc gia tham gia Hội nghị, đặc biệt là nhiều quốc gia đang phát triển mong muốn có một hệ thống giải quyết tranh chấp thích hợp, vừa tự nguyện, vừa bắt buộc, có hiệu quả để đảm bảo cho Công ước được giải thích hay áp dụng một cách thống nhất, nhằm duy trì một trật tự pháp lý trên biển.

Công ước tạo điều kiện cho các bên tranh chấp được tự do lựa chọn các phương thức thích hợp để giải quyết tranh chấp, từ những phương thức hoàn toàn tự nguyện như trao đổi ý kiến, đàm phán ngoại giao, hoà giải, cho đến những phương thức bắt buộc bằng cách sử dụng toà án. Ngoài ra, Công ước còn qui định những trường hợp hạn chế hay ngoại lệ không bị bắt buộc đưa ra giải quyết theo những qui định của Công ước. Những qui định đó, của Công ước rất mềm dẻo, nhưng rất phức tạp, tổng hợp được các biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế thành một hệ thống hợp lý, để giải quyết những tranh chấp về biển, tạo điều kiện cho các loại quốc gia với quyền lợi khác nhau đều cùng có thể chấp nhận được. (Còn nữa).

An Bình

 

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Ngày 7/6, Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan đã tổ chức buổi gặp mặt với chủ đề “Người Việt Nam đang sống, làm việc, học tập tại Thái Lan hướng về quê hương,...
Vấn đề bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập, xây dựng cũng như duy trì một trật tự quốc tế trong quan...
Để xác định hướng đi của đường biên giới trên thực địa phải căn cứ vào mô tả hướng đi đường biên giới và bản đồ biên giới để xác định.
Bảng kê tọa độ, độ cao mốc giới là bảng kê tổng hợp tọa độ, độ cao của các mốc giới trên biên giới đất liền được sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ mốc ngã...
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Đảo xa vang lời ca tiếng máy