Cập nhật: 14:05 GMT + 7, Thứ tư ngày 22/05/2019
Luật pháp quốc tế
Luật pháp và thực tiễn quốc tế về xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa
(25/04/2013)

1. Các quy định pháp lý về xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa

        Điều 76 Công ước Luật Biển năm 1982 xác định thềm lục địa của quốc gia ven biển là đáy biển và lòng đất của phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ quốc gia ven biển đến mép ngoài của rìa lục địa. Nếu rìa lục địa nhỏ hơn 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì thềm lục địa của quốc gia ven biển là 200 hải lý. Nếu rìa lục địa của quốc gia ven biển rộng hơn 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của quốc gia ven biển thì quốc gia ven biển đó có quyền mở rộng thềm lục địa của mình ra quá 200 hải lý, nhưng tối đa không quá 350 hải lý hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2500m. Các quốc gia ven biển có thể áp dụng các phương thức khác nhau để xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa quá 200 hải lý là công thức 1% bề dày lớp đá trầm tích hoặc công thức tối đa 60 hải lý ngoài chân dốc lục địa. Ranh giới ngoài này được thể hiện bằng một loạt các đoạn thẳng nối liền các điểm cố định có tọa độ cụ thể và khoảng cách giữa các đoạn thẳng đó không được quá 60 hải lý.

Để xác định ranh giới ngoài thềm lục địa quá 200 hải lý, quốc gia ven biển phải nộp Báo cáo lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa với đầy đủ các thông tin đo đạc khảo sát, khoa học, kỹ thuật theo Bản hướng dẫn của Ủy ban để chứng minh thềm lục địa quá 200 hải lý của mình. Các quốc gia ven biển có thể tự nộp Báo cáo toàn diện hoặc Báo cáo từng phần và cũng có thể phối hợp với nhau trình Báo cáo chung cho Ủy ban. Thời hạn để quốc gia ven biển nộp Báo cáo quốc gia là 10 năm kể từ ngày Công ước Luật Biển năm 1982 có hiệu lực đối với họ. Riêng đối với các quốc gia ven biển đã trở thành thành viên Công ước trước ngày 13-5-1999, trong đó có Việt Nam, thì thời hạn cuối cùng để nộp Báo cáo quốc gia là ngày 13-5-2009. Nếu quốc gia ven biển không nộp Báo cáo quốc gia trong thời hạn đó thì họ sẽ mất quyền mở rộng thềm lục địa ra quá 200 hải lý.

Dựa trên cơ sở các khuyến nghị của Ủy ban, các quốc gia ven biển sẽ quy định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình và ranh giới đó có tính chất ràng buộc cuối cùng.

2. Tổ chức và hoạt động của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa

Công ước Luật Biển năm 1982 quy định lập một cơ quan mới là Ủy ban Ranh giới thềm lục địa với 21 ủy viên. Các ủy viên của Ủy ban được các quốc gia thành viên Công ước bầu với nhiệm kỳ 5 năm và sau đó họ có thể được bầu lại. Các ủy viên hoạt động với tư cách cá nhân, nhưng mọi khoản chi phí của họ khi làm việc cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa hoàn toàn do quốc gia cử người chịu. Các ủy viên của Ủy ban được hưởng quy chế các chuyên gia LHQ theo Công ước 1946 về ưu đãi và miễn trừ của LHQ. Chức năng chính của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa là xem xét các số liệu và các thông tin khác do các quốc gia ven biển trình lên liên quan ranh giới ngoài của thềm lục địa quá 200 hải lý và đưa ra các khuyến nghị liên quan cho quốc gia ven biển. Ngoài ra, các ủy viên của Ủy ban được phép cung cấp ý kiến tư vấn về khoa học và kỹ thuật cho các quốc gia ven biển trong quá trình chuẩn bị báo cáo quốc gia về ranh giới thềm lục địa quá 200 hải lý.

Sau khi quốc gia ven biển nộp Báo cáo quốc gia, Báo cáo quốc gia sẽ được đưa vào chương trình nghị sự khóa họp gần nhất của Ủy ban. Theo Quy tắc thủ tục, các ủy viên của Ủy ban đã giúp một quốc gia ven biển chuẩn bị báo cáo sẽ không được tham gia Tiểu ban liên quan báo cáo của quốc gia đó. Sau đó Ủy ban họp toàn thể để xem xét và bỏ phiếu kín thông qua các khuyến nghị do Tiểu ban chuẩn bị bằng đa số 2/3. Các quốc gia nộp Báo cáo được quyền tham dự khi Ủy ban xem xét Báo cáo của họ. Ủy ban sẽ chuyển các khuyến nghị của mình cho quốc gia ven biển. Nội dung các khuyến nghị đa dạng, có thể là khuyến nghị đồng ý với đường ranh giới ngoài do quốc gia ven biển trình lên, hoặc khuyến nghị sửa đổi phạm vi đường ranh giới, hoặc khuyến nghị để lại chưa xem xét, hoặc khuyến nghị trình Báo cáo mới. Nếu quốc gia ven biển không đồng ý với các khuyến nghị của Ủy ban thì họ có quyền trình Báo cáo mới hoặc Báo cáo sửa đổi.

3. Thực tiễn quốc tế xác định ranh giới thềm lục địa quá 200 hải lý

Cuối năm 2001, Nga nộp Báo cáo quốc gia về ranh giới thềm lục địa quá 200 hải lý ở 4 khu vực. Năm 2009 tiến độ nộp Báo cáo quốc gia diễn ra hết sức khẩn trương với 34 Báo cáo được nộp cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa. Đến ngày 23 – 4 - 2013 tổng cộng có 65 Báo cáo được nộp cho Ủy ban, trong đó khu vực châu Á và Thái Bình Dương có 22 Báo cáo (Nhật Bản, In-đô-nê-xia, Phi-líp-pin, Việt Nam, Mi-an-ma, Ấn Độ, Úc, Niu Di lân, Phi-gi, Trung Quốc, Hàn Quốc v.v…).

Phần lớn các quốc gia ven biển (Pháp, Anh, Mê-hi-cô, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Y-ê-men, Đan Mạch, Phi-gi…) nộp Báo cáo từng phần để đáp ứng được quy định về thời hạn 13-5-2009 và bảo lưu quyền nộp tiếp các Báo cáo liên quan ranh giới ngoài các khu vực khác sau này. Trong số đó, một số nước đã nộp nhiều Báo cáo khác nhau (như Pháp nộp 5 Báo cáo, Anh nộp 4 Báo cáo, Nam Phi nộp 2 Báo cáo v.v...). Một số nước như Nga, Úc, Bra-xin, Nhật Bản, Ác-hen-ti-na nộp Báo cáo toàn bộ. Về Báo cáo chung, cho đến nay đã có 5 Báo cáo chung được trình lên Ủy ban là Báo cáo chung của Pháp, Ai-len, Tây Ban Nha và Anh, Báo cáo chung của Mô-ri-xơ và Xây-sen, Báo cáo chung của Pháp và Nam Phi, Báo cáo chung của Mi-crô-nê-dia, Pa-pua Niu-Ghi-nê và quần đảo Xô-lô-mông và Báo cáo chung của Việt Nam và Ma-lai-xi-a.

Phần lớn ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng của các quốc gia ven biển đều dưới 350 hải lý. Đối với một số quốc gia khác, phần lớn thềm lục địa mở rộng của họ cũng dưới 350 hải lý, nhưng ở một số khu vực nhất định lại đạt giới hạn 350 hải lý. Chỉ một số rất ít quốc gia mở rộng phạm vi thềm lục địa đến trọn 350 hải lý.

Phần lớn các quốc gia không nêu cụ thể trong Báo cáo diện tích của khu vực thềm lục địa mở rộng. Một số Báo cáo quốc gia khác có nêu rõ diện tích khu vực thềm lục địa quá 200 hải lý (Mi-crô-nê-dia, Pa-pua Niu Ghi nê và Xô-lô-mông hoặc Báo cáo của Bra-din, Pa-lau).

  Sau khi Nhà nước ta phê chuẩn Công ước Luật Biển năm 1982 các cơ quan hữu quan của ta đã khẩn trương triển khai nghiên cứu, khảo sát toàn diện về tình hình địa chất, địa mạo của thềm lục địa Việt Nam. Chính phủ đã cử một số  chuyên gia tham dự các khóa đào tạo do LHQ tổ chức tại Bru-nây và Ma-lai-xia liên quan việc chuẩn bị xây dựng Báo cáo quốc gia. Đồng thời ta cũng học hỏi  kinh nghiệm của các nước đã có sự chuẩn bị lâu dài về vấn đề xác định ranh giới thềm lục địa.

Phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 và Bản hướng dẫn về khoa học, kỹ thuật của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa, nước ta đã xây dựng Báo cáo quốc gia về khu vực thềm lục địa phía Bắc (Báo cáo từng phần) và phối hợp với Ma-lai-xi-a xây dựng Báo cáo chung về khu vực phía Nam Biển Đông với đầy đủ cơ sở pháp lý quốc tế và khoa học, kỹ thuật. Các công thức được áp dụng để xác đinh ranh giới ngoài của thềm lục địa là công thức 60 hải lý ngoài chan dốc thềm lục địa và công thức 1% độ dày trầm tích. Chiều dài các đoạn thẳng xác định ranh giới thềm lục địa ở cả hai khu vực cơ bản là 1,0 hải lý, một số đoạn khác dài tới 26, 45, 57 và 59 hải lý.

Ngày 6-5-2009 Đại diện Thường trực nước ta tại LHQ và Đại diện thường trực Ma-lai-xia tại LHQ đã thay mặt Chính phủ hai nước nộp Báo cáo chung của Việt Nam và Ma-lai-xia về ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Nam Biển Đông. Tiếp đó ngày 7-5-2009 Nhà nước ta nộp tiếp Báo cáo quốc gia về ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam (khu vực phía Bắc). Việc nước ta trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa các Báo cáo trên là việc làm bình thường như nhiều quốc gia ven biển trong khu vực Đông Nam Á cũng như các khu vực khác đã làm để thực hiện quyền và nghĩa vụ của một quốc gia thành viên Công ước Luật Biển năm 1982. Báo cáo về khu vực phía Bắc khẳng định Việt Nam có bờ biển dài hơn 3260km, có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và hơn 3000 hòn đảo ở Biển Đông /. 

                                                                    Luật gia Nguyễn Duy Chiến

Đại Nam Nhất Thống toàn đồ
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ "Hoàng Sa", "Vạn lý Trường Sa" thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam.
Ngày 7/6, Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan đã tổ chức buổi gặp mặt với chủ đề “Người Việt Nam đang sống, làm việc, học tập tại Thái Lan hướng về quê hương,...
Vấn đề bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập, xây dựng cũng như duy trì một trật tự quốc tế trong quan...
Nghiêm cấm phá hoại, dịch chuyển, đánh cắp, hủy hoại mốc giới, vật đánh dấu đường biên giới; ....
Việc kiểm tra, bảo vệ và quản lý đường biên giới và hệ thống mốc quốc giới được hai Bên phối hợp và tổ chức thực hiện cụ thể, chi tiết theo Hiệp định về...
Bài hát về biên giới, biển đảo
Tên bài hát: Đảo xa vang lời ca tiếng máy